TCCS – Bảo đảm quyền con người là giá trị cốt lõi của tiến bộ xã hội, đồng thời là tiêu chí quan trọng khẳng định uy tín, vị thế của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn nỗ lực bảo vệ, thúc đẩy quyền con người và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Tuy nhiên, một số thế lực thù địch, thiếu thiện chí vẫn cố tình tìm cách phủ nhận, đưa ra luận điệu sai trái, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền Việt Nam. Việc tiếp tục nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước, củng cố uy tín quốc gia và chủ động đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, thiếu khách quan về nhân quyền.
Tổng Bí thư Tô Lâm đến thăm và tặng quà cho học sinh Trường Phổ thông cơ sở Nguyễn Đình Chiểu và Trường Phổ thông cơ sở Xã Đàn, ngày 1-6-2025 _Ảnh: TTXVN
Nhận diện luận điệu sai trái, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền ở Việt Nam
Thời gian qua, ở Việt Nam, vấn đề nhân quyền luôn nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia, tổ chức và cá nhân. Bên cạnh nhiều đánh giá khách quan mang tính xây dựng, hợp tác, ghi nhận, vẫn tồn tại một số chủ thể thường xuyên đưa ra những nhận định phiến diện, thiếu khách quan, như: Một số cơ quan chính phủ phương Tây; một số cơ quan truyền thông và tổ chức phi chính phủ thiếu thiện chí; các tổ chức, cá nhân chống đối trong nước và lưu vong ở nước ngoài. Các chủ thể này thường sử dụng nhiều hình thức như công bố báo cáo, bảng xếp hạng, bài viết, chiến dịch truyền thông và hoạt động vận động chính sách nhằm tác động đến dư luận quốc tế và quá trình hoạch định chính sách của một số quốc gia đối với Việt Nam. Nhìn tổng thể, các luận điệu sai trái, thiếu khách quan về nhân quyền Việt Nam thường xoay quanh một số nội dung chủ yếu, như: Luận điệu xuyên tạc thực thi dân chủ, bảo đảm quyền con người; hạ thấp và phủ nhận các thành tựu bảo đảm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa ở Việt Nam; quy kết Việt Nam “thiếu hợp tác”, “thiếu minh bạch”, “không tuân thủ các cơ chế nhân quyền quốc tế”…
Những luận điệu xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam nói trên tuy khác nhau về cách thể hiện, nhưng đều có điểm chung là tiếp cận phiến diện, thiếu khách quan, tách rời bối cảnh lịch sử và các điều kiện cụ thể về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam; cố tình xuyên tạc nhằm mục đích hạ thấp, bôi nhọ uy tín, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm suy yếu sự ổn định và phát triển của đất nước; làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Vì vậy, việc tiếp cận vấn đề từ thực tiễn sinh động của những thành tựu bảo đảm quyền con người có ý nghĩa quan trọng nhằm khẳng định uy tín quốc gia, qua đó bác bỏ các luận điệu sai trái, thiếu khách quan về nhân quyền.
Thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam thời gian qua
Xuyên suốt các giai đoạn cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan điểm nhất quán “con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển”, “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”. Với những nỗ lực bền bỉ, thời gian qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên lĩnh vực nhân quyền, tiêu biểu như:
Một là, hoàn thiện thể chế và thiết chế bảo đảm quyền con người
Về phương diện thể chế, sau khi trở thành thành viên Liên hợp quốc (năm 1977), Việt Nam đã từng bước tham gia hầu hết các Công ước quốc tế quan trọng về quyền con người và tích cực nội luật hóa, hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 được xem là đỉnh cao trong hoạt động lập hiến về bảo vệ quyền con người khi dành trọn Chương II (36 điều) quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; đồng thời, nội dung liên quan đến quyền con người còn được quy định ở nhiều điều khoản khác. Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. 2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Trên nền tảng hiến định, hệ thống pháp luật về quyền con người được xây dựng và hoàn thiện mạnh mẽ đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc cho việc tôn trọng, bảo đảm quyền con người. Quá trình xây dựng pháp luật luôn tuân thủ nguyên tắc “Tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bình đẳng giới; bảo đảm dân chủ, công bằng, nhân đạo, công khai, minh bạch”. Báo cáo tổng hợp của Liên hợp quốc phục vụ cơ chế UPR lần thứ IV (năm 2024), các bên liên quan ghi nhận: Việt Nam đã phê chuẩn phần lớn các công ước quốc tế cốt lõi về quyền con người và tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý trong nước phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
Các thiết chế bảo đảm quyền con người được xây dựng và cũng cố ngày càng hoàn thiện. Hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương được phân công, phối hợp, kiểm soát chặt chẽ trong việc bảo đảm quyền con người. Quốc hội tăng cường chức năng giám sát tối cao đối với việc thực thi quyền con người. Chính phủ tổ chức thực thi pháp luật, ban hành các chương trình, chiến lược quốc gia về giảm nghèo, bảo vệ trẻ em, chuyển đổi số, phát triển bền vững,…Hệ t hống tòa án được cải cách theo hướng bảo đảm nguyên tắc xét xử độc lập, công bằng, khách quan, minh bạch, bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân. Viện kiểm sát tăng cường kiểm sát hoạt động tư pháp. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội tham gia giám sát, phản biện xã hội và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Hệ thống ban chỉ đạo nhân quyền của Chính phủ và các địa phương được kiện toàn, hoạt động hiệu quả. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, trợ giúp pháp lý cho người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế luôn được chú trọng. Nội dung quyền con người được đưa vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân và tích cực truyền thông trong đời sống xã hội nhằm nâng cao nhận thức về nhân quyền cho mọi tầng lớp nhân dân.
Hai là, thành tựu bảo đảm các quyền dân sự, chính trị. Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) vào ngày 24-9-1982. Kể từ đó đến nay, Việt Nam không ngừng nỗ lực nội luật hóa và nghiêm túc thực hiện các cam kết quốc tế. Những thành tựu nổi bật có thể kể đến như:
Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của người dân. Điều 28 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của địa phương và cả nước”. Trên thực tế, nhân dân thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội thông qua nhiều hình thức đa dạng, như: Thực hiện cơ chế dân chủ ở cơ sở; tiếp xúc cử tri; giám sát và phản biện xã hội; bầu cử và ứng cử để lựa chọn những đại biểu xứng đáng vào Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp… Việc tổ chức bầu cử luôn được tiến hành công khai, dân chủ, đúng pháp luật. Việt Nam duy trì tỷ lệ cử tri tham gia các cuộc bầu cử rất cao, riêng tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử Quốc hội khóa XV đạt 99,6%. Bên cạnh đó, cơ chế lấy ý kiến nhân dân về các dự thảo luật, chính sách quan trọng ngày càng được mở rộng. Điển hình như trong đợt lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 vào năm 2025, đã có hơn 280 triệu lượt ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và tỷ lệ tán thành đạt 99,75%.
Các quyền tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tiếp cận thông tin,… ngày càng được bảo đảm. Môi trường báo chí, truyền thông và không gian mạng ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Việt Nam hiện có hệ thống báo chí đa dạng về loại hình, cùng với sự phát triển nhanh chóng của mạng internet và các phương tiện truyền thông xã hội, tạo ra không gian rộng mở để người dân tự do ngôn luận, trao đổi thông tin, bày tỏ quan điểm, tham gia phản biện xã hội. Tính đến năm 2025, mạng 4G phủ sóng đạt 99,48% dân số; 5G có vùng phủ lên 90,2%, Internet băng rộng cố định xếp hạng 11 thế giới, băng rộng di động xếp hạng 17 thế giới; số người sử dụng mạng internet tại Việt Nam đạt hơn 78 triệu người (gần 80% dân số). Trong chuyển đổi số, Việt Nam đạt nhiều kết quả tích cực: Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) năm 2024 Việt Nam được xếp hạng 71/193 quốc gia, thuộc nhóm “rất cao” của chỉ số này; Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) Việt Nam xếp hạng 44/133 quốc gia. Những thành tựu to lớn này tạo điều kiện quan trọng để bảo đảm các quyền tự do cá nhân, đồng thời đặt nền móng quan trọng cho công cuộc chuyển đổi số, thúc đẩy sự phát triển của quốc gia và phát triển con người toàn diện.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được Đảng và Nhà nước tôn trọng, bảo đảm, được khẳng định rõ trong các định hướng, quan điểm của Đảng và thể chế hóa trong hệ thống pháp luật. Điều 24, Hiến pháp 2013 khẳng định: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Trên thực tế, đời sống tôn giáo ở Việt Nam ngày càng phong phú, đa dạng. Hiện nay, cả nước có hơn 95% dân số theo tín ngưỡng, tôn giáo. Có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động với gần 28 triệu tín đồ, hơn 54.000 chức sắc, hơn 144.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự. Mỗi năm, hàng nghìn lễ hội và sinh hoạt tôn giáo được tổ chức công khai, thu hút đông đảo chức sắc, tín đồ trong và ngoài nước tham gia.
Về việc các báo cáo đánh tráo khái niệm, tôn vinh những kẻ phạm tội, bị xử lý theo pháp luật Việt Nam thành những “nhà báo độc lập”, “nhà đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền” nhằm xuyên tạc bản chất vụ việc và gây sức ép chính trị. Cần khẳng định rằng, không chỉ riêng Việt Nam, mà ở bất kỳ quốc gia nào, quyền của mỗi con người, mỗi công dân phải gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; những đối tượng phạm tội đều phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Thời gian qua, ở Việt Nam, việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với các cá nhân lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân luôn được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm trình tự, thủ tục tố tụng và các quyền của người bị buộc tội. Các vụ, việc đều được xử lý công khai, minh bạch, có sự tham gia của luật sư và cơ chế giám sát theo quy định, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của đông đảo người dân. Vì vậy, việc nghiêm trị những kẻ cố tình thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, chống đối Đảng, Nhà nước Việt Nam không thể gọi là “bắt bớ, giam giữ nhà hoạt động nhân quyền”, “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”,… Những cáo buộc này không phản ánh đúng bản chất của đời sống chính trị, xã hội ở Việt Nam.
Ba là, thành tựu bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa.
Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) vào ngày 24-9-1982. Từ đó đến nay, việc bảo đảm các quyền này ngày càng được tăng cường và đạt nhiều kết quả nổi bật, tiêu biểu như:
Thành tựu về giảm nghèo và nâng cao mức sống. Thời gian qua, Việt Nam được coi là mô hình thành công của thế giới trong nỗ lực xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội. Từ một quốc gia lạc hậu, thiếu đói thường xuyên, đất nước ta đã vượt lên thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành quốc gia đang phát triển. Trong những năm qua, bất chấp những trở ngại toàn cầu, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2021 – 2025 đạt bình quân khoảng 6,2%. Đặc biệt tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8,02% là điểm sáng về tăng trưởng kinh tế, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới. Quy mô GDP năm 2025 đạt trên 514 tỷ USD, xếp thứ 32 nền kinh tế trên thế giới, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao. Tăng trưởng kinh tế luôn gắn kết chặt chẽ với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Nhà nước luôn ưu tiên bố trí nguồn lực cho an sinh xã hội và phát triển con người. Các chính sách, giải pháp giảm nghèo bền vững được triển khai đồng bộ, hiệu quả trên tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Nhờ vậy, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều toàn quốc giảm từ 4,2% năm 2020 xuống còn 1,3% năm 2025. Các chính sách xã hội, an sinh được triển khai mạnh mẽ nhằm đảm bảo quyền lợi cho nhóm dễ bị tổn thương. Năm 2025, Việt Nam cơ bản hoàn thành việc xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước. Số người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên đạt trên 3,5 triệu người, đời sống nhân dân được cải thiện một cách căn bản và toàn diện. Chỉ tính riêng năm 2024, Việt Nam đã xuất khẩu trên 9,18 triệu tấn gạo với kim ngạch 5,75 tỷ USD, góp phần bảo đảm an ninh lương thực trên thế giới. Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công nhận Việt Nam là “một trong những quốc gia thành công nhất thế giới trong giảm nghèo đa chiều”; Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá: “Việt Nam là thí dụ xuất sắc về thành công trong giảm nghèo, với tiến bộ ở giáo dục, y tế, bình đẳng giới và an sinh xã hội”.
Thành tựu về giáo dục, y tế, lao động – việc làm, văn hóa, xã hội đều đạt được những bước tiến nổi bật, ấn tượng. Việt Nam đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở trên phạm vi toàn quốc vào năm 2010, hiện tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 – 60 ở mức khoảng 98%, cao hơn đáng kể so với tỷ lệ biết chữ trung bình trên toàn cầu. Tỷ lệ nhập học đúng tuổi bậc tiểu học đạt 98,7%. Hệ thống giáo dục tiếp tục mở rộng, tạo cơ hội học tập cho mọi người dân. Đặc biệt, đã thực hiện miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân. Năm 2025, số người tham gia bảo hiểm y tế đạt 96,46 triệu người (95,2% dân số); 100% hộ nghèo, cận nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số được Nhà nước hỗ trợ bảo hiểm y tế. Tuổi thọ trung bình đạt 74,8 tuổi. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động duy trì ở mức thấp, khoảng 2,22%. Phát triển văn hóa, con người và xã hội “đạt kết quả rất quan trọng, nhiều mặt tiến bộ”. Báo cáo Phát triển con người năm 2025 ghi nhận Việt Nam đã thăng hạng vượt bậc về Chỉ số Phát triển con người (HDI), đạt 0,766 điểm, tăng 14 bậc so với xếp hạng năm ngoái, từ vị trí vị trí 107 lên vị trí 93/193 quốc gia và duy trì vững chắc trong nhóm nước có phát triển con người cao. Chỉ số xếp hạng về bình đẳng giới năm 2025 của Việt Nam xếp thứ 74/148 quốc gia, tăng 13 bậc so với năm 2021.Chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam liên tục được cải thiện, Báo cáo Hạnh phúc thế giới năm 2025 công bố Việt Nam đứng thứ 46/143 quốc gia. Chỉ số phát triển bền vững (SDGs) xếp thứ 61/167 quốc gia. Khảo sát của Internations cho thấy, “Việt Nam lọt vào top năm quốc gia tốt nhất cho người nước ngoài năm 2025″. Trong bảng xếp hạng năm 2026 vừa được trang thông tin Retraite sans Frontières của Pháp công bố, Việt Nam vinh dự nằm trong danh sách 10 quốc gia đáng sống nhất thế giới dành cho người nghỉ hưu, nhờ chi phí sinh hoạt hợp lý, điều kiện sống ngày càng cải thiện và hệ thống hạ tầng, y tế có nhiều tiến bộ. Đánh giá về nhân quyền Việt Nam, Quyền điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam Ramla Khalidi khẳng định: “Việt Nam đã thể hiện vai trò tiên phong trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người”.
Bốn là, trách nhiệm quốc gia trong hợp tác quốc tế về nhân quyền.
Việt Nam không chỉ nỗ lực thực hiện các cam kết quốc tế mà còn tích cực, chủ động và có nhiều đóng góp thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trên thế giới.
Trên diễn đàn quốc tế, Việt Nam luôn thể hiện là quốc gia cầu thị, sẵng sàng đối thoại, tích cực hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với các quốc gia, tổ chức quốc tế để cùng xây dựng giải pháp phát triển tối ưu trên lĩnh vực nhân quyền. Điều này thể hiện rõ ở việc Việt Nam luôn chú trọng tham gia vào các chu kỳ UPR của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc. Đến nay, Việt Nam đã tham gia 4 chu kỳ UPR (năm 2009, 2014, 2019 và 2024), ở mỗi chu kỳ Việt Nam đều thể hiện thiện chí và nỗ lực cam kết thực hiện các khuyến nghị đã chấp thuận. Ở chu kỳ 4 năm 2014, Việt Nam đã chấp thuận 271/320 khuyến nghị các nước đưa ra, đạt tỷ lệ 84,7%, khẳng định mong muốn và quyết tâm của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, đồng thời, thể hiện tính minh bạch và sẵn sàng đối thoại, hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với các quốc gia, tổ chức quốc tế quốc tế về vấn đề nhân quyền.
Được sự tín nhiệm của bạn bè quốc tế, Việt Nam đã và đang đồng thời đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong các cơ chế, diễn đàn của Liên hợp quốc như: Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2 nhiệm kỳ (2008 – 2009, 2020 – 2021); Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77; Hội đồng khai thác Liên minh Bưu chính thế giới nhiệm kỳ 2022 – 2025; Ủy ban Luật pháp quốc tế nhiệm kỳ 2023 – 2027; Hội đồng Chấp hành cơ quan Liên hợp quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ nhiệm kỳ 2025 – 2027… Đặc biệt, ngày 14-10-2025, Việt Nam được tái đắc cử vào vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2026 – 2028 với 180/193 phiếu ủng hộ, cao nhất trong số các ứng cử viên đại diện cho khu vực châu Á – Thái Bình Dương; đồng thời, là quốc gia duy nhất trong khu vực tiếp tục đảm nhiệm vị trí này sau nhiệm kỳ 2023 – 2025 (từ khi Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc được thành lập (năm 2006), Việt Nam ba lần trúng cử vào Hội đồng này: nhiệm kỳ 2014 – 2016; 2023 – 2025 và 2026 – 2028). Kết quả này khẳng định sự ghi nhận và đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội và nỗ lực thúc đẩy bảo vệ quyền con người của Việt Nam, đồng thời là bằng chứng không thể bác bỏ về uy tín, trách nhiệm và năng lực đóng góp của Việt Nam đối với tiến trình nhân quyền toàn cầu.
Năm là, sự lãnh đạo nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam – nhân tố quyết định mọi thành tựu bảo đảm quyền con người.
Nhìn tổng thể, những thành tựu trong bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam là kết quả của sự lãnh đạo nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc đặt con người ở vị trí trung tâm, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, những thành tựu bảo đảm quyền con người mà Việt Nam đạt được được nhân dân đồng tình, bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao là minh chứng rõ nét nhất, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả nhân quyền Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cũng cần khẳng định rằng, ở Việt Nam, chế độ xã hội và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là do lịch sử và nhân dân Việt Nam lựa chọn phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam, phù hợp với nguyên tắc “quyền tự quyết của mỗi dân tộc” được pháp luật quốc tế ghi nhận. Vì vậy, việc đánh giá, quy kết, áp đặt về thể chế nhất nguyên chính trị là “không có dân chủ”, “vi phạm nhân quyền” rõ ràng là phiến diện, thiếu thiện chí, không phản ánh đúng thực tế và trái với luật pháp quốc tế. Dân chủ, nhân quyền không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng, mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội. Với Việt Nam, nhân quyền không phải là khẩu hiệu chính trị mà là giá trị gắn liền với phát triển toàn diện con người và bảo vệ chủ quyền dân tộc. Việt Nam luôn khẳng định, mọi hành vi lợi dụng nhân quyền để can thiệp nội bộ, phá hoại an ninh, trật tự đều là hành vi vi phạm nhân quyền, đi ngược lại Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.
Quyền con người là lĩnh vực rộng lớn và đa chiều. Với tinh thần cầu thị, trách nhiệm, Đảng và Nhà nước ta đang đẩy mạnh triển khai các giải pháp đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống, đồng thời từng bước khắc phục những hạn chế còn tồn tại; phấn đấu đạt mục tiêu “đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, là một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”(17). Đảng ta khẳng định: “Đến năm 2045: Việt Nam trở thành quốc gia hùng cường, hưng thịnh, hạnh phúc – đó là lời thề trước lịch sử và trước nhân dân”. Đó cũng chính là lời thề và cam kết của Đảng về việc không ngừng bảo đảm, nâng cao quyền con người. Những thành tựu trên là minh chứng sống động khẳng định rõ nỗ lực, trách nhiệm, uy tín của Việt Nam trong bảo đảm và thúc đẩy quyền con người, biến các luận điệu sai trái, thiếu khách quan về nhân quyền Việt Nam trở nên lạc lõng, vô căn cứ.
Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực đang diễn biến nhanh chóng, phức tạp; yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới ngày càng cao; cùng với sự gia tăng của các thách thức an ninh phi truyền thống và các hoạt động lợi dụng vấn đề “dân chủ, nhân quyền” chống phá Việt Nam, việc tiếp tục nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần củng cố uy tín quốc gia và chủ động đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, thiếu khách quan về nhân quyền.
Việt Nam luôn coi bảo đảm quyền con người là bản chất, mục đích của chế độ xã hội chủ nghĩa (Trong ảnh: Chăm sóc trẻ sơ sinh bằng thiết bị y tế hiện đại) _Nguồn: Tư liệu
Các giải pháp tiếp tục nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trong giai đoạn mới, cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật về quyền con người gắn với xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật theo hướng dân chủ, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Gắn hoàn thiện pháp luật với việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo đảm mọi quyền lực nhà nước được kiểm soát hiệu quả. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia; tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước. Phát huy dân chủ, mở rộng sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định và giám sát chính sách, qua đó tạo nền tảng pháp lý và thể chế vững chắc cho việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
Hai là, bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội.
Tăng trưởng kinh tế bền vững, bao trùm là điều kiện vật chất quan trọng để bảo đảm các quyền con người. Do vậy, cần tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, tạo việc làm bền vững, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân. Đồng thời, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền; quan tâm hỗ trợ các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương.
Ba là, bảo đảm các quyền dân sự, chính trị và phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội.
Tăng cường bảo vệ thực chất các quyền dân sự, chính trị, kịp thời phòng ngừa và xử lý các hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hội nhập quốc tế, bảo đảm quyền tham gia và hưởng thụ đời sống văn hóa của người dân. Đẩy mạnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo hướng công bằng, bao trùm, bảo đảm cơ hội học tập suốt đời và thu hẹp khoảng cách tiếp cận giáo dục giữa các vùng, miền. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống và khả năng ứng phó với các rủi ro xã hội mới.
Bốn là, nâng cao nhận thức về quyền con người cho cán bộ, đảng viên, nhân dân và truyền thông tích cực chống các luận điệu sai trái.
Thực hiện hiệu quả việc giáo dục quyền con người trong chương trình giáo dục quốc dân. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực thực thi quyền con người trong hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đồng thời đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về quan điểm, chính sách, pháp luật và các thành tựu bảo đảm quyền con người. Chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, nâng cao năng lực của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong nhận diện và phản bác các thông tin sai trái, thiếu khách quan về quyền con người, góp phần củng cố niềm tin xã hội và bảo vệ uy tín quốc gia.
Năm là, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế về quyền con người.
Tiếp tục thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế và tích cực tham gia có trách nhiệm vào các cơ chế nhân quyền của Liên hợp quốc. Tăng cường đối thoại, hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm với các quốc gia và tổ chức quốc tế trên tinh thần xây dựng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và tôn trọng sự khác biệt. Thông qua hợp tác quốc tế, Việt Nam có thể tranh thủ nguồn lực, kinh nghiệm và tri thức toàn cầu nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người, đồng thời góp phần thúc đẩy các giá trị nhân quyền tiến bộ trên thế giới.
Những thành tựu trong bảo đảm quyền con người ở Việt Nam đã tạo cơ sở thực tiễn vững chắc để khẳng định uy tín quốc gia và bác bỏ các luận điệu sai trái, thiếu khách quan về nhân quyền. Trong thời gian tới, việc tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên sẽ góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước, đồng thời bác bỏ đanh thép, thuyết phục các luận điệu sai trái, thiếu khách quan về nhân quyền./.
(Theo Tạp chí cộng sản)